Friday, December 15, 2017

Chia sẽ cách tự tạo lông mày đẹp mê ly cho chị em

Lông mày là một trong những bộ phận đi đầu để quyết định vẻ đẹp của khuôn mặt, ngoài ra lông mày còn đóng một vai trò lớn trong nhân tướng học giúp người đời cảm nhận được tính cách, kẻ xấu, kẻ gian.
Đối với phụ nữ lông mày đóng một vị trí vô cùng quan trọng trên khuôn mặt. Nó có thể giúp bạn cân bằng dáng mặt, thu hẹp hay mở rộng đôi mắt theo ý muốn. Tuy nhiên, nhiều quý cô lại khá "lơ là" và không hề biết đến điều này. Hoặc ngay cả những quý cô điệu đà chăm chút lông mày thường xuyên cũng khó mà tô vẽ được hàng lông mày như ý để phát huy hết lợi thế của nó.
Sau đây Blog cuộc sống chia sẻ cách để tạo lông mày đẹp cho chị em (lông mày sau rất phù hợp với son lipsense):
Share:

Wednesday, December 6, 2017

Chữa suy giãn tĩnh mạch vĩnh viễn, thật đơn giản

Hiện nay, ở Việt Nam giãn tĩnh mạch chân chưa có số liệu thống kê cụ thể về tỉ lệ và số người mắc bệnh này. Tuy nhiên, qua thực hành lâm sàng chúng tôi thấy tỉ lệ bệnh này ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do tình trạng béo phì đang gia tăng ở lớp người trẻ và càng ngày do việc truyền thông phát triển, giáo dục kiến thức y học ngày càng nhiều... làm người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe của mình, do đó đến khám bệnh và khám kiểm tra sức khỏe thường xuyên. Vì thế, việc phát hiện bệnh sớm và nhiều hơn.

Bệnh suy giãn tĩnh mạch là gì?
Giãn tĩnh mạch là biến chứng của suy van tĩnh mạch. Tức là sau một thời gian bị suy van tĩnh mạch, hiện tượng viêm và ứ trệ tuần hoàn trong lòng tĩnh mạch sẽ làm cho thành của các tĩnh mạch bị yếu đi và giãn lớn ra. Hệ thống tĩnh mạch ngoại biên của cơ thể con người bao gồm tĩnh mạch nông, tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch xuyên có tác dụng nối hai tĩnh mạch nông và sâu lại với nhau. Do đó, cũng có 3 loại giãn tĩnh mạch: giãn tĩnh mạch nông, giãn tĩnh mạch sâu và giãn tĩnh mạch xuyên. Trong đó, giãn tĩnh mạch nông là hay gặp nhất.
Ngoài giãn tĩnh mạch ở chân ra còn có thể gặp giãn tĩnh mạch ở tay, thường làm mất thẩm mỹ và là nguyên nhân khiến một số bệnh nhân nữ trẻ tuổi rất khó chịu và giãn tĩnh mạch ở các cơ quan nội tạng trong cơ thể như: giãn tĩnh mạch gan gặp trong xơ gan, giãn tĩnh mạch lách gặp trong cường lách, giãn tĩnh mạch mạc treo ruột thường là bẩm sinh...


Những nguyên nhân suy giãn tĩnh mạch chân?
Nguyên nhân chính của giãn tĩnh mạch là do tình trạng suy van tĩnh mạch và ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch cùng với hiện tượng viêm của thành tĩnh mạch. Bệnh này cũng có yếu tố di truyền, chẳng hạn như mẹ có thể di truyền cho con gái.

Những đối tượng có nguy cơ bị giãn tĩnh mạch chân cao?
Những đối tượng hay bị giãn tĩnh mạch nhất là phụ nữ vì phụ nữ có nội tiết tố nữ, nếu hàm lượng nội tiết tố nữ tăng cao sẽ làm suy thành tĩnh mạch và dễ gây hình thành cục máu đông trong đó. Ngoài ra, một số yếu tố nguy cơ khác như: di truyền, tuổi tác càng lớn càng dễ suy và giãn tĩnh mạch (các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy rằng 2/3 những phụ nữ trên 50 tuổi bị suy và giãn tĩnh mạch). Béo phì làm tăng áp lực khi đứng và cản trở dòng máu tĩnh mạch trở về tim, đi giày cao gót, mặc quần áo chật, đi hoặc đứng nhiều, làm việc trong môi trường nóng và ẩm thấp, sử dụng thuốc ngừa thai, có thai và sinh đẻ nhiều lần...

Triệu chứng và những dấu hiệu nhận biết bệnh theo các cấp độ?
Triệu chứng ban đầu của suy giãn tĩnh mạch là triệu chứng tê chân, cảm giác bồn chồn ở chân, nặng hơn là nặng chân, phù chân khi đi hay đứng nhiều, chuột rút về đêm, đau chân và cuối cùng là giãn tĩnh mạch nông, nổi thành từng búi hay giãn toàn bộ trông như những con giun trên bắp chân và đùi.
Có tất cả 6 cấp độ suy giãn tĩnh mạch theo phân loại của Hội Tĩnh mạch học Thế giới:

  • Cấp độ I: cảm giác nặng chân, tê chân.
  • Cấp độ II: phù chân khi đi lại hay đứng nhiều.
  • Cấp độ III: giãn và nổi tĩnh mạch ngoằn ngoèo trên bắp chân và đùi.<br />
  • Cấp độ IV: giãn tĩnh mạch và có thay đổi sắc tố da của chân: chân sạm màu.
  • Cấp độ V: giãn tĩnh mạch và có những vết loét dinh dưỡng ở chân.
  • Cấp độ VI: các vết loét dinh dưỡng này điều trị mãi vẫn không lành.

Những biến chứng có thể xảy ra do giãn tĩnh mạch chân?
Các biến chứng khác đó là tình trạng viêm tĩnh mạch đi kèm và hình thành cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, nhất là ở các tĩnh mạch sâu, khi có điều kiện thuận lợi như thay đổi áp lực như: khi đi máy bay, ngồi quá lâu... cục máu đông sẽ theo tĩnh mạch chạy về tim và gây tắc động mạch phổi tạo nên tình trạng đột tử. Một số các biến chứng khác cũng hay gặp: phù chân và đau chân làm bệnh nhân rất khó chịu, giảm đi chất lượng của cuộc sống.



Cần làm gì để đề phòng chứng giãn tĩnh mạch chân?
Một số biện pháp khá hữu hiệu để phòng bệnh suy và giãn tĩnh mạch:

  • Hạn chế đứng hoặc đi lại nhiều quá.
  • Nên tập đi bộ chậm hay bơi lội 30 phút mỗi ngày.
  • Tránh béo phì.
  • Chế độ ăn nhiều chất xơ và vitamin, đặc biệt là vitamin C.
  • Không mặc quần áo chật quá, không đi giày cao gót.
  • Nơi làm việc phải thoáng mát.
  • Không sử dụng thuốc ngừa thai hay sinh đẻ quá nhiều lần.

Những bài thuốc chữa bệnh giãn tĩnh mạch

Dấm táo - vị thuốc đơn giản
Nếu sử dụng thuốc tây bạn lo sợ những biến chứng cũng như tác dụng phụ của nó thì dấm táo lại là một lựa chọn tốt. Để đảm bảo an toàn bạn có thể làm dấm táo tại nhà bằng táo đỏ, táo mèo, dấm gạo và đường đựng trong một chiếc lọ thủy tinh.

Tuy nhiên, trong quá trình làm bạn nên ngâm táo với nước muối, chà xát cho sạch bụi bẩn và các chất bản quản và táo cần được thái lát mỏng trước khi đem ngâm. Sau 6 tuần bạn có thể lấy ra sử dụng để chữa bệnh suy giãn tĩnh mạch.
Với dấm táo, bạn có thể sử dụng bông sạch, thấm dấm táo rồi bôi trực tiếp lên vùng da bị bệnh và sau đó chà xát nhẹ nhàng. Nếu bạn chịu khó thực hiện cách làm này mỗi ngày 2 lần và kiên trì thực hiện trong hai tháng bệnh tình sẽ có chuyển biến tốt.

Ngoài ra, người bệnh cũng có thể uống dấm táo để chữa bệnh suy giãn tĩnh mạch bằng cách pha loãng với nước ấm. Mỗi ngày uống hai lần bệnh tình sẽ thuyên giảm rõ rệt.

Giúp máu lưu thông bằng ớt sừng
Theo y học cổ truyền, ớt có vị cay, nóng, có tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau). Chất Capsaicin gây giãn mạch, tăng lưu lượng máu cục bộ, làm tan máu bầm, giảm đau. Chất capsaicin trong ớt là hoạt chất gây đỏ và nóng, chỉ có khi quả ớt chín, chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1%.



Người bị giãn tĩnh mạch chỉ cần pha một muỗng nhỏ bột ớt sừng đỏ vào một ly nước nóng, rồi khuấy đều và uống là được. Người bệnh nên uống hỗn hợp này ngày 3 lần và uống liên tục trong khoảng 2 tháng để đạt được hiệu quả chữa bệnh tốt nhất.

Ớt tuy có nhiều tác dụng nhưng chỉ nên sử dụng với một lượng vừa đủ tránh có hại cho sức khỏe. Các chất cay trong ớt sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, gây đau bụng, đi ngoài và chảy máu nếu bị trĩ. Người bị viêm họng mãn tính, viêm loét dạ dày, người mắc bệnh trĩ không nên ăn ớt, hoặc ăn hạn chế.

Xoa bóp bằng dầu ô liu
Dầu ô liu là một trong những “thần dược” không chỉ giúp làm đẹp cho chị em phụ nữ mà còn giúp làm tăng tuần hoàn máu và  điều trị bệnh giãn tĩnh mạch chân hữu hiệu.



Người bệnh chỉ cần sử dụng dầu oliu để xoa bóp vào vùng da bị bệnh, là có thể giúp tăng cường lưu thông, do đó làm giảm đau và sưng do bệnh suy giãn tĩnh mạch gây ra.

Theo đó, người bệnh suy giãn tĩnh mạch chân thực hiện mỗi ngày hai lần trong 1-2 tháng.

Loại bỏ chất độc hại trong máu bằng tỏi
Y học cổ truyền ghi nhận tỏi là loại thảo dược giúp loại bỏ hiệu quả các chất độc hại trong mạch máu và cải thiện lưu thông máu. Bởi vậy dùng tỏi giúp người bệnh điều trị và đẩy lui những triệu chứng của bệnh giãn tĩnh mạch.




Cách thực hiện bài thuốc này cũng rất đơn giản, người bệnh chỉ cần thái mỏng khoảng 5 tép tỏi, đặt chúng vào một chai thủy tinh sạch. Sau đó người bệnh vắt thêm 1- 2 quả cam lấy nước và đổ vào chai kết hợp thêm 2 muỗng canh dầu ô liu, trộn đều và để yên hỗn hợp này trong 12 giờ là sử dụng để bôi lên vùng da đang bị bệnh.
Share:

Saturday, December 2, 2017

Chữa bệnh gút gout triệt để bằng các cây cỏ quanh nhà

Bệnh gút hay còn gọi là thống phong, là một dạng viêm khớp gây đau đớn nhất, thường gặp do sự tích tụ quá nhiều acid uric, được sinh ra từ sự phân hủy các chất purin, tích tụ trong máu quá nhiều. Thông thường, acid uric sẽ được hòa tan trong máu và bài tiết qua thận, sau đó được đưa ra ngoài qua đường nước tiểu. Nhưng nếu chúng ta ăn quá nhiều thực phẩm chứa purin, sẽ khiến lượng aicd uric trong cơ thể tăng cao, thận không thể bài tiết hoàn toàn. Lâu ngày, những tinh thể acid uric lắng đọng càng nhiều sẽ gây ra bệnh gút.

Nguyên nhân gây bệnh gút: Nguyên nhân sâu xa của bệnh gút nằm ở những trục trặc về gen.

Cho đến nay, giới khoa học đã xác định được 5 gen liên quan đến bệnh gút: HGPRT1, Glc6-photphat tại gan và 3 gen PRPPs1,2,3 có trong tinh hoàn. Trong bệnh gút, viêm xảy ra do các tinh thể nhỏ của một chất gọi là Acid uric lắng đọng trong khớp, đó là tinh thế muối Urat. Có nhiều nguy cơ lắng đọng muối Urat nếu nồng độ Acid uric cao trong cơ thể. Tuy nhiên, hội chứng tăng Acid uric và bệnh gút là hai vấn đề cần phân biệt, cho dù có liên hệ chặt chẽ với nhau.



Acid uric là một chất thải hình thành bởi sự phá hủy tự nhiên chất purin trong cơ thể (chất purin có trong các tế bào của cơ thể). Thói quen ăn nhậu, thói quen dinh dưỡng không phù hợp không chỉ làm tăng hàm lượng purin mà còn là nguồn chuyển hóa dở dang tạo ra vô số các gốc tự do, chu chuyển lang thang trong cơ thể và sẵn sàng gắn vào bất kỳ gen nào có nguy cơ biến đổi.

Gout là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purin làm tăng Acid uric máu dẫn đến ứ đọng tinh thể muối Urát tại khớp gây viêm khớp. Biểu hiện lâm sàng đặc trưng thường là sưng tấy, nóng, đỏ, đau dữ dội tại một hay nhiều khớp. Đa phần bệnh nhân khi điều trị dứt được cơn đau đều tự cho là đã khỏi bệnh mà không biết rằng bệnh vẫn đang âm thầm tiến triển bên trong. Nếu không được điều trị tiếp tục và triệt để, các cơn đau sẽ xuất hiện trở lại ngày càng nhiều và nặng hơn. Ở giai đoạn muộn hơn, có thể xuất hiện những u, cục gọi là hạt tophi (tiếng Anh là topus) xung quanh khớp, ảnh hưởng rất lớn đến thẩm mỹ, có nguy cơ gây biến dạng khớp và có thể dẫn đến tàn phế.

>> Căn bệnh gout có chữa khỏi không

Nguy cơ mắc bệnh
Đàn ông có nhiều khả năng mắc bệnh gút hơn phụ nữ, do cac gen bị trục trặc thường có ở nam. Tuy nhiên, phụ nữ có nam tính mạnh cũng vẫn bị mắc gút như thường. Các yếu tố có nguy cơ khác khác bao gồm béo phì, tiền sử gia đình, bệnh thận, huyết áp cao, hội chứng chuyển hóa, nghiện rượu và sử dụng của một số thuốc (Aspirin, thuốc lợi tiểu).

Triệu chứng
Giai đoạn đầu tiên thường là không có bất kỳ triệu chứng nào ngoại trừ nồng độ acid uric trong máu cao. Các triệu chứng đầu tiên thường gặp là ngón cái sưng đỏ và đau nhức. Thường thì cơn đau sẽ xảy đến sau một tác động vật lý nào đó tại chỗ bị đau, hoặc sau một sự kiện về dinh dưỡng (ăn nhậu, tiệc tùng). Đau thường xuất hiện ở các khớp bao gồm các khớp mắt cá chân, bàn chân, đầu gối, cổ tay, khuỷu tay và khớp nhỏ của bàn tay, có khi ở những khớp nhỏ có ở khắp nơi trên cơ thể. Các tinh thể muối urate gây viêm khớp, dẫn đến sưng đỏ, nóng, đau, và cứng khớp. Hầu hết các bệnh nhân có các cơn đau tái phát trong vòng vài năm, tuỳ theo thể trạng và lối sống, mà thường là từ 1-3 năm. Nếu không chữa trị, trong giai đoạn sau, các cơn đau khớp cấp sẽ gây tổn thương nhiều khớp, làm tổn thương khớp, mất vận động, đau mãn tính và hình thành cục tophi (do tinh thể Urat lắng đọng trong mô mềm).

Chẩn đoán
Gút thường được chẩn đoán lâm sàng bằng cách chọc hút dịch khớp và tìm tinh thể muối Urat dưới kính hiển vi. Cách thông thường để nhận biết đối với bệnh nhân xuất hiện cơn gút cấp đầu tiên là cho uống Colchicine. Sau một vài giờ, thuốc có tác dụng giảm đau, thì có thể đó là gút. Trong cơn gút cấp, nồng độ Acid uric máu có thể bình thường chứ không nhất thiết phải tăng cao. Do đó, không thể sử dụng xét nghiệm máu để loại trừ chẩn đoán gút cấp. Tuy nhiên, có thể giám sát nồng độ Acid uric máu để theo dõi hiệu quả của phương pháp điều trị thể hiện ở nồng độ Urat trong máu giảm.

Điều trị
Sau khi chẩn đoán gút được xác định, một số loại thuốc sẽ được chỉ định trong điều trị cơn gút cấp. Đối với hầu hết các bệnh nhân, thuốc tốt nhất trong cơn gút cấp là thuốc kháng viêm không phải Steroid (NSAID). Có thể sử dụng thuốc thay thế NSAIDs là colchicine (chú ý colchicine có nhiều phản ứng phụ) dùng 2-3 lần / ngày, dùng càng sớm càng tốt. Đôi khi, steroid được sử dụng để điều trị bệnh gút. Nếu các cơn gút cấp xảy ra thường xuyên và nặng hơn, cần can thiệp y tế kịp thời. Điều cần lưu ý là các bệnh nhân mạn tính, sau khi bị mắc gút trong một thời gian dài mà không chữa khỏi, sẽ có thể kéo theo một số bệnh khác như suy thận, gan, phù nề giữ nước.
Việc lạm dụng thuốc giảm đau để cắt các cơn gút cấp, hoặc sử dụng thuốc để chữa các bệnh này một cách không có kiểm soát sẽ làm cho bệnh gút thêm nặng hơn.
Về điều trị chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn trong những bài tiếp theo của chuyên mục.

Phòng tránh
Nếu bạn đang thừa cân hay béo phì thì việc giảm cân qua ăn uống lành mạnh và thường xuyên hoạt động thể chất là điều rất quan trọng. Nghiên cứu cho thấy giảm cân có thể làm giảm nồng độ acid uric và giảm xuất hiện các cơn gút cấp.

Nếu bạn nghiện rượu, bạn nên giảm hoặc ngưng hoàn toàn. Uống nhiều bia hoặc rượu mạnh làm tăng cơ hội mắc bệnh gút. Cụ thể, việc uống rượu nhiều sẽ làm sản sinh Acid lactic. Acid lactic sẽ tranh chấp đào thải với Acid uric, làm cho lượng Acid uric không thể thoát ra ngoài hoặc thoát với khối lượng không đủ.

Bạn nên uống ít nhất 2-3 lít nước mỗi ngày vì nó giúp hoà tan acid uric trong cơ thể và loại bỏ theo đường tiết niệu ra ngoài. Ăn thực phẩm có nhiều purin (như cá cơm, cá mòi, ngỗng,…) cũng có thể gây tăng Acid uric.

Những người ăn nhiều hải sản và thịt (đặc biệt là thịt nội tạng như gan, thận, não, tim) cũng có nguy cơ mắc bệnh gút.

Ngoài ra, ở lứa tuổi 30 trở lên, nên tránh những thay đổi đột ngột của cơ thể, như đang nóng mà tắm nước lạnh, sốc cơ thể … có thể sẽ là tác nhân để sự chuyển hoá từ Acid uric thành muối Urat diễn ra.

Cách chữa bệnh gút bằng đông y từ bài thuốc lá lốt


Lá lốt là loài cây quen thuộc được nhiều người sử dụng để chế biến nhiều món ăn. Tuy nhiên, lá lốt còn được dùng như một vị thuốc quý để chữa các chứng bệnh đau nhức xương khớp, trong đó có bệnh gút. Theo Đông y, lá lốt có tác dụng ôn trung tán hàn, khu phong trừ thấp, chỉ thống rất tốt cho những bị đau nhức gân cốt và xương khớp.



Để chữa bệnh gút với lá lốt, chúng ta có cần áp dụng hai bài thuốc uống và thuốc ngâm sau đây:

Bài thuốc uống:

Mỗi ngày, sắc 5-10g lá lốt khô với 2 chén nước sao cho còn 1 chén, uống ấm sau khi ăn tối. Uống trong 10 ngày liên tục sẽ giảm đau nhức trong xương, đồng thời thanh lọc và giải độc cho cơ thể.

Bài thuốc ngâm chân tay:

Dùng 30g lá lốt còn tươi đem rửa sạch rồi cho vào ấm đun sôi với 1 lít nước. Sau khi nước sôi thì nhấc xuống và cho thêm chút muối, chờ nước nguội bớt thì ngâm chân tay bị đau nhức trong 30 phút. Thực hiện bài thuốc này trong vòng 1 tuần, vào buổi tối trước khi đi ngủ kết hợp với bài thuốc uống trên đây sẽ giảm đau nhức hiệu quả nhanh chóng.

Cách chữa bệnh gout bằng thuốc nam từ cây sói rừng

Cây sói rừng là loài thảo dược mọc hoang nhưng rất giàu dược tính. Theo Đông y, cây sói rừng có tác dụng hoạt huyết, khu phong trừ thấp, giải độc tiêu viêm, kháng khuẩn, giảm đau và tăng cường hệ miễn dịch cho xương khớp.



Từ lâu, dân gian đã biết cách sử dụng cây sói rừng để chữa các chứng bệnh đau nhức xương khớp, viêm khớp dạng thấp hay bệnh thống phong mang lại tác dụng rất tốt với bài thuốc sau đây:

Dùng 15-30g rễ cây sói rừng đem rửa sạch, sau đó đem nấu với nước và uống thay nước trong ngày. Mỗi ngày uống nước từ rễ cây sói rừng sẽ giúp người bị bệnh gút giảm bớt những cơn đau và thải trừ độc tố trong cơ thể mà không gây ra bất cứ tác dụng phụ nào.

Cách chữa bệnh gút từ cây nở ngày đất 

Cây nở ngày đất là một loại cây thân thảo mọc hoang nhiều ở vùng đồi núi khô. Qua nhiều nghiên cứu, y học đã nhận thấy rễ và lá cây nở ngày đất có chứa nhiều các thành phần như flavones, flavonoïdes, gomphrenol và saponines có khả năng giảm đau cho cơ bắp, ức chế các acid uric trong máu và đảo thải các độc tố trong cơ thể, có hiệu quả trong việc điều trị các bệnh xương khớp, đặc biệt là bệnh gút.



Để điều trị bệnh gút và các bệnh về xương khớp, chúng ta có bài thuốc từ cây hoa nở ngày đất như sau:

Đem 200g cây hoa nở ngày đất tươi, bao gồm tất cả các bộ phận của cây rửa sạch rồi sắc với 1,5 lít nước sao cho còn lại chừng 1/2 lít thì uống hết trong ngày. Mỗi ngày dùng 1 thang, có thể nấu lại nước 2 hoặc nước 3 để uống trong ngày cũng rất tốt. Sau khi thấy bệnh có dấu hiệu thuyên giảm thì bớt liều lượng thuốc còn lại khoảng 100g sắc uống bình thường.

Trên đây là một số cách chữa bệnh gút bằng thuốc nam hiệu quả người bệnh có thể tham khảo để chữa bệnh cho mình. Bên cạnh việc điều trị bệnh bằng thuốc, người bệnh cần phải chú ý đến chế độ ăn uống phù hợp, kiêng các thực phẩm có chứa đam có nguồn gốc purin như hải sản, thịt đỏ, trứng gia cầm… hạn chế các thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất kích thích để tránh bệnh tiến triển nặng, ảnh hưởng đến việc điều trị bệnh.

Share:

Friday, December 1, 2017

Bệnh rối loạn lo âu là gì triệu chứng nguyên nhân và cách chữa trị

Bệnh rối loạn lo âu là một trong những bệnh phổ biến gây cho con người có cảm giác ám ảnh cưỡng chế, nỗi sợ đám đông, rối loạn hoảng hốt, lo lắng những điều nhỏ nhặt cũng khiến cho người bệnh cảm thấy lo lắng, nó là một trong những chứng bệnh thuộc dạng tâm thần nhẹ phổ biến ở Mỹ, tuy nhiên ở Việt Nam nhiều người vẫn chưa chấp nhận rằng mình bị bệnh tâm thần. Thường có xu hướng né tránh và thường đi khám các chuyên khoa khác như tim mạch, thần kinh, tuy nhiên khi các bác sĩ nói rằng bị các vấn đề về tâm thần và khuyên đi khám tâm thần thì người bệnh không hợp tác.
Định nghĩa

Bình thường cảm thấy lo lắng theo từng thời gian, đặc biệt là nếu cuộc sống căng thẳng. Tuy nhiên, lo lắng nghiêm trọng, liên tục can thiệp với các hoạt động hàng ngày có thể là một dấu hiệu của rối loạn lo âu tổng quát.

Nên chữa rối loạn lo âu ở đâu ?
Có thể phát triển chứng rối loạn lo âu tổng quát ở một đứa trẻ hoặc là một người lớn. Rối loạn lo âu tổng quát có các triệu chứng tương tự như rối loạn hoảng sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng chế và các loại khác của sự lo âu, nhưng tất cả các điều kiện khác nhau.

Sống với rối loạn lo âu tổng quát có thể là một thách thức lâu dài. Trong nhiều trường hợp, nó xảy ra cùng với sự lo lắng khác hoặc các rối loạn tâm trạng. Trong hầu hết trường hợp, rối loạn lo âu tổng quát được cải thiện bằng thuốc hoặc tư vấn tâm lý. Thay đổi lối sống, học tập kỹ năng đối phó và sử dụng các kỹ thuật thư giãn cũng có thể giúp đỡ.

Các triệu chứng

Các triệu chứng rối loạn lo âu tổng quát có thể khác nhau. Có thể bao gồm:


  • Liên tục lo lắng, ám ảnh về mối quan tâm nhỏ hay lớn.
  • Bồn chồn.
  • Mệt mỏi.
  • Khó tập trung tâm trí.
  • Khó chịu.
  • Cơ bắp căng thẳng hoặc đau nhức bắp thịt.
  • Run rẩy, cảm thấy bối rối hoặc bị dễ dàng giật mình.
  • Khó ngủ.
  • Ra mồ hôi, buồn nôn hoặc tiêu chảy.
  • Khó thở hoặc nhịp tim nhanh.


Có thể có lần khi lo lắng không hoàn toàn biến mất, nhưng vẫn cảm thấy lo lắng ngay cả khi không có lý do rõ ràng. Ví dụ, có thể cảm thấy lo lắng căng thẳng về sự an toàn hoặc của những người thân yêu, hoặc có thể có một cảm giác chung là một cái gì đó tồi tệ sắp xảy ra.

Các triệu chứng ở trẻ em và thanh thiếu niên


  • Ngoài các triệu chứng trên, trẻ em và thanh thiếu niên có thể có lo lắng quá nhiều về:
  • Hoạt động tại trường học hoặc các sự kiện thể thao.
  • Về thời gian (đúng giờ).
  • Động đất, chiến tranh hạt nhân hoặc sự kiện thảm khốc khác.
  • Một đứa trẻ bị rối loạn cũng có thể:
  • Cảm thấy quá lo lắng để phù hợp.
  • Là một người cầu toàn.
  • Thiếu tự tin.
  • Làm lại nhiệm vụ bởi vì họ không hoàn thiện lần đầu.
  • Phấn đấu phê duyệt.
  • Đòi hỏi rất nhiều sự bảo đảm về hiệu suất.
  • Một số lo lắng là bình thường, nhưng khám bác sĩ nếu:
  • Cảm thấy như đang lo lắng quá nhiều, và nó can thiệp vào công việc, các mối quan hệ hoặc các phần khác của cuộc sống.
  • Cảm thấy chán nản, có rắc rối với rượu hoặc ma túy, hoặc có vấn đề sức khỏe tâm thần khác cùng với lo âu.
  • Có ý nghĩ tự tử hoặc hành vi tìm kiếm sự điều trị khẩn cấp ngay lập tức.


Lo lắng không chỉ đơn giản( điều trị trầm cảm trong bao lâu ), và họ thực sự có thể trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Hãy thử tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp trước khi lo lắng trở nên trầm trọng - có thể dễ dàng hơn để điều trị sớm.



Nguyên nhân

Như với nhiều điều kiện sức khỏe tâm thần, những gì gây ra rối loạn lo âu tổng quát không hoàn toàn hiểu rõ. Nó có thể liên quan đến hóa chất trong não (chất dẫn truyền thần kinh), chẳng hạn như dopamine, serotonin và norepinephrine. Có khả năng tình trạng này có nhiều nguyên nhân có thể bao gồm di truyền học, kinh nghiệm cuộc sống và căng thẳng.

Một số điều kiện sức khỏe thể chất có liên quan với lo âu. Các ví dụ bao gồm:


  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
  • Bệnh tim.
  • Suy giáp hoặc cường giáp.
  • Thời kỳ mãn kinh.
  • Các yếu tố nguy cơ
  • Những điều có thể làm tăng nguy cơ phát triển chứng rối loạn lo âu tổng quát bao gồm:
  • Là phụ nữ. Phụ nữ hơn hai lần nhiều hơn nam giới được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lo âu tổng quát.
  • Chấn thương thời thơ ấu. Những trẻ em đã phải chịu đựng sự lạm dụng hoặc chấn thương, bao gồm cả chứng kiến sự kiện chấn thương, có nguy cơ cao phát triển rối loạn lo âu tổng quát tại một số thời điểm trong cuộc sống.
  • Bệnh tật. Có một tình trạng bệnh mãn tính hay bệnh tật nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư, có thể dẫn đến nỗi lo thường trực về tương lai, điều trị và tài chính.
  • Căng thẳng. Một sự kiện lớn hoặc một số tình huống căng thẳng nhỏ hơn có thể gây ra lo lắng quá mức.


Nhân cách một số người dễ bị rối loạn lo âu hơn những người khác. Ngoài ra, một số rối loạn nhân cách, chẳng hạn như rối loạn nhân cách ranh giới, cũng có thể được liên kết đến rối loạn lo âu tổng quát.

Di truyền học. Rối loạn lo âu có thể di truyền trong gia đình.

Lạm dụng lạm dụng ma túy hoặc rượu có thể làm trầm trọng thêm rối loạn lo âu tổng quát. Caffeine và nicotine cũng có thể làm tăng sự lo lắng.

Các biến chứng

Rối loạn lo âu tổng quát không có gì nhiều hơn chỉ làm cho lo lắng. Nó cũng có thể dẫn đến, hoặc tồi tệ hơn điều kiện sức khỏe tinh thần và thể chất khác, bao gồm:


  • Trầm cảm.
  • Lạm dụng thuốc.
  • Khó ngủ (mất ngủ).
  • Các vấn đề về tiêu hóa hay đường ruột.
  • Nhức đầu.
  • Nghiến răng (bệnh nghiến răng).
  • Kiểm tra và chẩn đoán


Nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần sẽ có một số bước để giúp chẩn đoán rối loạn lo âu tổng quát. Có thể bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi chi tiết về các triệu chứng và lịch sử y tế. Trong một số trường hợp, nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần sử dụng bảng câu hỏi tâm lý để giúp xác định những gì đang xảy ra. Bác sĩ cũng có thể làm kiểm tra vật lý để tìm dấu hiệu lo lắng có thể liên kết với một điều kiện y tế cơ bản.

Để được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lo âu tổng quát, phải đáp ứng các tiêu chí nêu ra trong hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM). Hướng dẫn này được công bố bởi Hiệp hội Tâm thần Mỹ và được sử dụng bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần để chẩn đoán các điều kiện tinh thần và các công ty bảo hiểm bồi hoàn cho điều trị.

Các tiêu chí sau đây phải được đáp ứng cho một chẩn đoán rối loạn lo âu tổng quát:

Quá nhiều lo lắng và lo lắng về một số sự kiện hoặc hoạt động của hầu hết các ngày trong tuần, ít nhất sáu tháng.

Khó khăn trong việc kiểm soát các cảm xúc lo lắng.

Lo âu hoặc lo lắng là nguyên nhân gây căng thẳng đáng kể hoặc gây trở ngại cho cuộc sống hàng ngày.

Lo lắng không liên quan đến một tình trạng sức khỏe tâm thần, chẳng hạn như các cuộc tấn công hoảng loạn, lạm dụng chất hoặc rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý (PTSD).

Ít nhất ba trong số các triệu chứng sau đây ở người lớn và một trong những điều sau đây ở trẻ em: bồn chồn, mệt mỏi, khó tập trung, khó chịu, cơ bắp căng thẳng hoặc khó ngủ.

Rối loạn lo âu tổng quát thường xảy ra cùng với vấn đề sức khỏe tâm thần khác, có thể làm cho chẩn đoán và điều trị khó khăn hơn. Một số rối loạn thường xảy ra với rối loạn lo âu tổng quát bao gồm:


  • Ám ảnh.
  • Rối loạn hoảng sợ.
  • Trầm cảm.
  • Lạm dụng thuốc.
  • Rối loạn stress sau chấn thương.


Nếu bác sĩ nghi ngờ lo lắng có thể có một nguyên nhân y tế, họ có thể yêu cầu xét nghiệm máu hoặc nước tiểu hoặc xét nghiệm khác để tìm dấu hiệu của một vấn đề vật lý.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hai phương pháp điều trị chính cho chứng rối loạn lo âu tổng quát là thuốc và tâm lý trị liệu. Thậm chí có thể hưởng lợi nhiều hơn từ sự kết hợp của cả hai. Nó có thể mất một số thử và sai để khám phá ra chính xác những gì các phương pháp điều trị làm việc tốt nhất cho.

Thuốc

Một số loại khác nhau của các loại thuốc được sử dụng để điều trị rối loạn lo âu tổng quát:

Thuốc chống trầm cảm. Các loại thuốc này ảnh hưởng đến hoạt động của hóa chất trong não (chất dẫn truyền thần kinh) có một vai trò trong rối loạn lo âu. Ví dụ thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị rối loạn lo âu tổng quát bao gồm Paroxetine (Paxil), sertraline (Zoloft), venlafaxine (Effexor).

Buspirone. Thuốc chống lo âu này có thể được sử dụng trên cơ sở liên tục. Như với hầu hết các thuốc chống trầm cảm, nó thường mất đến vài tuần để đầy đủ hiệu quả. Một tác dụng phụ thường gặp của buspirone là cảm giác chóng mặt ngay sau khi dùng. Tác dụng phụ ít gặp hơn bao gồm đau đầu, buồn nôn, căng thẳng và mất ngủ.

Benzodiazepin. Trong trường hợp hạn chế, bác sĩ có thể quy định một trong các thuốc an thần để cứu trợ ngắn hạn các triệu chứng lo âu. Ví dụ như lorazepam (Ativan), diazepam (Valium), chlordiazepoxide (Librium) và alprazolam (Xanax). Benzodiazepines thường chỉ được sử dụng để giảm lo âu cấp tính trên cơ sở ngắn hạn. Có thể thói quen hình thành và có thể gây ra một số tác dụng phụ, bao gồm buồn ngủ, giảm phối hợp cơ, và các vấn đề với sự cân bằng và bộ nhớ.

Trong một số trường hợp, thuốc này không cụ thể được chấp thuận cho rối loạn lo âu tổng quát. Nhãn sử dụng là một thực tế phổ biến và pháp lý của việc sử dụng một loại thuốc để điều trị một điều kiện không cụ thể được liệt kê trên nhãn quy định của nó như là sử dụng được FDA phê chuẩn.

Tâm lý trị liệu

Còn được gọi là liệu pháp nói chuyện và tư vấn tâm lý, tâm lý trị liệu liên quan đến làm việc căng thẳng trong cuộc sống cơ bản và mối quan tâm và thay đổi hành vi. Nó có thể là một điều trị rất hiệu quả đối với lo âu.

Liệu pháp nhận thức hành vi là một trong những loại phổ biến nhất của tâm lý trị liệu cho chứng rối loạn lo âu tổng quát. Nói chung là điều trị ngắn hạn, liệu pháp nhận thức hành vi tập trung vào việc dạy những kỹ năng cụ thể để xác định những suy nghĩ và hành vi tiêu cực và thay thế chúng với những người tích cực. Ngay cả khi một tình huống không mong muốn không thay đổi, có thể làm giảm căng thẳng và giành quyền kiểm soát nhiều hơn đối với cuộc sống bằng cách thay đổi cách phản ứng.

Lối sống và các biện pháp khắc phục

Trong khi hầu hết mọi người mắc chứng rối loạn lo âu tổng quát cần trị liệu tâm lý hoặc thuốc để có được sự lo lắng dưới sự kiểm soát, thay đổi lối sống cũng có thể tạo sự khác biệt. Dưới đây là một vài điều có thể làm:


  • Tập thể dục hàng ngày. Tập thể dục là giảm căng thẳng mạnh mẽ, có thể cải thiện tâm trạng và có thể giữ cho khỏe mạnh. Tốt nhất nếu phát triển một thói quen thường xuyên và làm việc hầu hết các ngày trong tuần. Bắt đầu chậm và dần dần tăng số lượng và cường độ tập thể dục.
  • Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh. Tránh béo, thức ăn có đường và chế biến. Bao gồm các loại thực phẩm trong chế độ ăn uống giàu axit béo omega-3 và các vitamin B.
  • Tránh uống rượu và thuốc an thần khác. Có thể làm trầm trọng thêm sự lo lắng.
  • Sử dụng kỹ thuật thư giãn. Kỹ thuật trực quan, thiền và yoga là những ví dụ của các kỹ thuật thư giãn mà có thể dễ dàng gây lo lắng.
  • Hãy ngủ ưu tiên. Hãy làm những gì có thể chắc chắn đang nhận được đủ giấc ngủ chất lượng. Nếu không ngủ, gặp bác sĩ.


Thuốc thay thế

Bổ sung nhất định có thể giúp giảm lo lắng, mặc dù nó không rõ ràng bao nhiêu giúp có thể có những tác dụng phụ có thể xảy ra. Một số bổ sung được sử dụng để điều trị lo âu bao gồm:

Kava. Loại thảo dược này được báo cáo để giúp thư giãn mà không làm cho cảm thấy bình thản. Một số nghiên cứu đã liên kết Kava ​​vấn đề về gan, vì vậy nó không phải là một ý tưởng tốt để có nó nếu có một tình trạng gan, uống rượu hàng ngày hoặc uống thuốc có ảnh hưởng đến gan.

Valerian. Phổ biến nhất được sử dụng như là một trợ giúp giấc ngủ, valerian có tác dụng an thần và cũng có thể làm giảm lo âu.

Vitamin B và acid folic. Các dưỡng chất này có thể làm giảm lo lắng bằng cách ảnh hưởng đến việc sản xuất các hóa chất cần thiết cho bộ não hoạt động (chất dẫn truyền thần kinh).

Nói chuyện với bác sĩ trước khi dùng các biện pháp khắc phục hậu quả thảo dược bổ sung để đảm bảo rằng chúng an toàn và không tương tác với bất cứ loại thuốc nào có.

Đối phó và hỗ trợ

Để đối phó với chứng rối loạn lo âu tổng quát, đây là một số điều có thể làm:


  • Tham gia một nhóm hỗ trợ lo lắng, có thể tìm thấy sự thông cảm, sự hiểu biết và kinh nghiệm chia sẻ. Có thể tìm thấy các nhóm hỗ trợ trong cộng đồng, và cũng có một số có sẵn trên Internet.
  • Hãy hành động. Làm việc với nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần để tìm ra những gì đang làm cho lo lắng và giải quyết nó. Ví dụ, nếu tài chính là mối quan tâm, làm việc hướng tới xây dựng một ngân sách.
  • Hãy để nó đi. Đừng bám víu vào mối quan tâm trong quá khứ. Thay đổi những gì có thể và để nghỉ ngơi.
  • Phá vỡ chu kỳ. Khi cảm thấy lo lắng, đi bộ nhanh hoặc đi sâu vào một sở thích để tái tập trung tâm trí tránh khỏi lo lắng.
  • Tham dự vào kế hoạch điều trị. Dùng thuốc theo chỉ dẫn. Giữ các cuộc hẹn điều trị. Tính nhất quán có thể tạo sự khác biệt lớn, đặc biệt là khi nói đến việc dùng thuốc.
  • Hòa nhập xã hội. Đừng để lo lắng cô lập từ những người thân yêu hoặc các hoạt động thú vị. Tương tác xã hội và các mối quan hệ chăm sóc có thể làm giảm bớt lo lắng.


Phòng chống

Không có cách nào để dự đoán chắc chắn một người nào đó phát triển các rối loạn lo âu tổng quát, nhưng có thể thực hiện các bước để giảm tác động của các triệu chứng nếu đang lo lắng:

Nhận giúp đỡ sớm. Lo lắng, giống như nhiều điều kiện sức khỏe tâm thần khác, có thể là khó khăn hơn để điều trị nếu chờ đợi.

Giữ nhật ký. Theo dõi cuộc sống cá nhân có thể giúp và nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần xác định những gì đang làm căng thẳng và những gì có vẻ để giúp cảm thấy tốt hơn.

Ưu tiên cuộc sống. Có thể làm giảm lo lắng bằng cách cẩn thận quản lý thời gian và năng lượng.

Tránh sử dụng chất không lành mạnh. Rượu và ma túy sử dụng và thậm chí caffeine hoặc sử dụng nicotine có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm sự lo lắng. Nếu đang nghiện các chất này, bỏ thuốc có thể làm cho lo lắng. Nếu không thể bỏ thuốc lá, gặp bác sĩ hoặc tìm một nhóm hỗ trợ để giúp.

Bài thuốc chữa suy nhược thần kinh từ cây lục lạc ba lá
Cây lục lạc ba lá còn được gọi với những cái tên là cây sục sạc, rủng rảng, muồng phân,… Cây mọc hoang ở nhiều nơi, được tận dụng để làm thuốc chữa bệnh phổ biến trong dân gian.

Theo Đông y, lục lạc ba lá có vị ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng bổ can thận, sáng mắt ích tinh. Tất cả các bộ phận của cây là thân, lá, rễ, hạt cây đều có tác dụng chữa bệnh. Trong đó thân và lá có vị đắng, tính bình có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu; rễ có vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng tiêu viêm giúp trợ tiêu hóa; hạt cây phơi khô dùng để chữa suy nhược thần kinh rất tốt. Trong dân gian, người ta cho rằng hạt lục lạc ba lá tròn có tác dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, tiểu són, can thận kém, mắt mờ, di tinh, viêm tuyến vú, trẻ con cam tích.

Để chữa suy nhược thần kinh bằng cây lục lạ ba lá, dùng bài thuốc như sau:

  • Nguyên liệu: hạt cây lục lạc ba lá (sao vàng), lá lạc tiên mỗi thứ 20g; hạt muồng muồng (quyết minh tử) sao vàng, long nhãn mỗi thứ 12g.
  • Cách dùng: Tất cả các vị thuốc sắc uống ngày 1 thang, chia ra làm 2 – 3 lần uống. Bài thuốc này cũng có tác dụng chữa bệnh mất ngủ rất tốt.

Bài thuốc chữa suy nhược thần kinh từ cây thạch hộc
Thạch hộc còn có tên gọi khác là kẹp thảo, hoàng thảo dẹt, kim thoa hoàng thảo. Vị thuốc này được dùng từ thân cành của cây được thu hái về, bỏ rỗ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô.
Theo đông y, vị thuốc này có vị ngọt nhạt, hơi mặn, không độc có tác dụng thanh nhiệt. chỉ khát dùng để chữa trị rất tốt cho các trường hợp người gầy yếu, sốt nóng, nóng trong, suy nhược thần kinh, mất ngủ, đau đầu, hoa mắt…

Bài thuốc chữa suy nhược thần kinh từ cây thạch hộc như sau: Thạch hộc, kỷ tử, sa sâm, mạch môn, hạ khô thảo, mẫu lệ mỗi vị 12g; câu đằng 16g; địa cốt bì, trạch tả, táo nhân, cúc hoa, mỗi vị 8g. Tất cả tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày, ngăn ngừa viêm loét dạ dày.

Bài thuốc chữa suy nhược thần kinh từ cây mã đề nước


Cây mã đề có rất nhiều công dụng chữa bệnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc cho cơ thể. Cây bông mã đề nước trong đông y được gọi là trạch tả dùng kết hợp với các vị thuốc thảo dược khác giúp an thần chữa rối loạn thần kinh, suy nhược, mất ngủ hiệu quả. Các bạn có thể thực hiện theo bài thuốc như sau:

  • Nguyên liệu: sinh địa, hoài sơn, táo nhân, rễ cỏ tranh, liên nhục mỗi thứ 16g; đan bì, trạch tả, ngân hoa, cam thảo, khởi tử mỗi thứ 10g; chi tử, sài hồ mỗi thứ 12g.
  • Cách dùng: Tất cả các vị thuốc cho vào nấu với 1,5 lít nước cho tới khi còn 400ml dùng để uống trong ngày, chia làm 2 lần. Bài thuốc này áp dụng cho các trường hợp bị suy nhược thần kinh thể âm hư hỏa vượng với các triệu chứng hoa mắt chóng mặt nóng đỏ, tinh thần nóng nảy, khó ngủ, tai ù, đau lưng, phụ nữ rối loạn kinh nguyệt.
Share: